1. Giai đoạn
từ 300- 500: Ẩn tu- đan tu
2. Giai đoạn từ 500- 1200: Phát triển Đan tu
3. Giai đoạn từ 1200- 1500: Hành khất
4. Giai đoạn 1500- 1800: Hoạt động tông đồ
5. Giai đoạn 1800- 2000: Giảng dạy/truyền giáo
Giai đoạn 2000-… : …
1.Giai đoạn
từ 300- 500: Ẩn tu /Các tổ phụ của nếp sống ẩn tu
Đời tu đã có từ thời Cựu ước: Tiên tri Giêrêmia sống
đời độc thân. Các
ngôn sứ Elia và
Eliseô cũng sống đời sống cộng đoàn với một số đệ tử
của họ, cùng chia sẻ với họ nếp sống khổ hạnh và sứ
vụ.
Sở dĩ đời sống tu trì chưa xuất hiện ngay từ đầu, vì
vào những thế kỷ đầu, không có sự phân biệt về nếp
sống giữa người Kitô hữu và tu sĩ, chưa có hàng rào
phân cách giữa giáo sĩ và giáo dân. Danh
từ giáo sĩ (kleros) chỉ được sử dụng từ năm 200, còn
danh từ giáo dân (laicus) mới bắt đầu được sử dụng
từ năm 220. Sau
đó, danh từ tư tế (linh mục), bắt đầu được sử dụng
trong các cộng đoàn nhỏ. Mọi
Kitô hữu đều được mời gọi sống thánh thiện, đều được
kêu mời vào làm vườn nho của Chúa tùytheo nhu
cầu, các đặc sủng và ơn gọi của họ.
Lúc đó, ảnh hưởng của Phúc âm và của thánh Phaolô
còn rất mạnh nơi người tín hữu. Những
cộng đoàn tiên khởi nghĩ rằng Chúa sắp đến rồi, nên theo lời
khuyên của thánh Phaolô, ai có vợ hãy sống như không
có vợ: “Thưa anh em, tôi xin nói với anh em điều
này: thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay những
người có vợ hãy sống như không có;ai khóc lóc, hãy
làm như không khóc; ai vui mừng, như chẳng mừng vui;
ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả; kẻ hưởng
dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì
bộ mặt thế gian này đang biến đi.” (1Cr
7, 29-31). Họ
bán hết của cải và giao nộp cho các tông đồ. Họ
bắt chước cách sống của Chúa Kitô và cố gắng đem ra
thực hành những lời dạy của Ngài. Giai
đoạn này Giáo hội đang bị bách hại, nên hình thức
đặc biệt của việc bắt chước này là sự tử đạo, chết
vì đức tin: đó là cách bổ túc vào sự khổ nạn của
Chúa. Đức
Kitô tiếp tục chịu đau khổ và chịu chết nơi người tử
đạo.
Nhưng ngay từ đầu đã có một số người sống độc thân. Đó
là các trinh nữ (x. 1Cr 7) và những người nam sống
khổ hạnh.Họ sống xả kỷ, từ bỏ, chấp nhận mọi hy sinh
gian khổ, dành thời giờ vào việc cầu nguyện hay làm
việc bác ái, tuy họ vẫn sống tại gia đình, giữa lòng
xã hội. Họ
đi từ cộng đoàn này sang cộng đoàn khác để rao giảng
Tin mừng, thăm viếng bệnh nhân, tham gia vào đời
sống Giáo hội, củng cố đức tin anh chị em trong lúc
Giáo hội đang bị bách hại. Nhưng họ không có gì
khác biệt với các tín hữu. Đôi
khi có những trinh nữ sống chung với
những người nam độc thân như anh chị em. Thánh Luca
cũng nói đến 4 người con gái của phó tế Philipphê. Họ
ở đồng trinh và được ơn nói tiên tri (Cv 21, 8). Họ
sống độc thân tự nguyện như đoạn Tin mừng Mt 19,
10-12. Họ
đang mong chờ ngày Chúa Kitô trở lại, nên họ không
có ý định xây dựng một nếp sống tu theo định
chế kéo dài mãi.
Nhưng từ thế kỷ IV, tình thế đã thay đổi: Giáo hội
không còn bị ngược đãi nữa. Giáo
hội được hợp thức hóa sau 300 năm bị bách hại qua
sắc chỉ Milan năm
313, thời hoàng đế Constantinô. Khi
đó, Giáo hội Kitô giáo trở thành một xã hội lý
tưởng. Tới thời hoàng đế Thêôđôsiô I, năm 395, Kitô
giáo trở thành quốc giáo. Hàng giáo sĩ, nhất là các
Giám mục, trở thành như các quan chức trong các tổ
chức chính quyền, nắm giữ cả hai quyền lực thần
quyền và thế quyền, đã đưa đến tình trạng hàng giáo
sĩ đi vào thoái hóa. Giáo hội lệ thuộc quốc gia và
đôi khi còn hy sinh các lợi ích thiêng liêng cho các
mục tiêu cai trị. Từ những suy thoái chạy theo quyền
lực và sống thế tục, trong Giáo hội xẩy ra nhiều tệ
trạng, đời sống đạo sa sút, sống xa rời Tin mừng.
Tinh thần do các vị tử đạo nung nấu bắt đầu phai
lạt. Nhiều người xem Giáo hội như đang trải qua một
cuộc bách hại mới, cuộc bách hại không đổ máu, nhưng
gây tai hại khủng khiếp. Bởi đó, họ tìm vào sống
trong rừng vắng hay trong sa mạc để tiếp tục bắt
chước Đức Kitô, trở về với Tin mừng, trở về với nếp
sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Họ sống đời
ẩn tu đơn độc, khổ hạnh, cầu nguyện, chuyên chăm đọc
Sách Thánh, thực hành các nhân đức và lao động cực
nhọc thay thế cho việc tử đạo trước đó. Do đó, một
hình thức tu trì mới xuất hiện. Đây mới thực sự là
khởi điểm của đời sống tu trì, mở ra một con đường
hoàn thiện khác với con đường do các vị tử đạo khai
phá. Các vị ẩn tu một mình này có ảnh hưởng lớn trên
Giáo hội và nhiều vị trở thành giám mục và các nhà
lãnh đạo thánh thiện.
Họ hiểu và thực hành các bản văn Kinh thánh về việc
bước theo Chúa theo nghĩa đen. Chẳng hạn, thánh
Antôn, khi vào nhà thờ nghe đoạn Tin mừng: “Nếu con
muốn nên trọn lành, hãy về bán hết…” (Mt 19, 21; Mt
6, 34), đã cảm nhận được tiếng Chúa gọi ngài. Đối
với ngài, việc theo Chúa là bắt chước các môn đệ
trong việc từ bỏ nhà cửa, gia đình.
a. Tại phương đông
Nếp sống ẩn tu đơn độc này khai sinh tại Ai Cập.
Thánh Phaolô
Thèbes (236
- 347) và
thánh Antôn (250-
356) được
coi như là những nhân vật tiêu biểu, tổ
phụ của nếp sống ẩn tu. Thánh Phaolô thành Thèbes
sống xa cách mọi người. Ngài không viết lách, không
rao giảng, không thu nhận đệ tử. Nhưng ngài tỏa sáng
bằng chính đời sống gương mẫu, thánh thiện. Thánh
Antôn mồ côi cha mẹ năm 18 tuổi và ngài phải chăm
sóc đứa em gái. Nhưng khi nghe được tiếng Chúa gọi,
ngài đã bán hết tài sản, bố thí cho kẻ nghèo, đem em
gái đến ký thác cho một nhóm trinh nữ rồi bước theo
Chúa. Lúc đầu ngài đến một nơi hoang vắng gần nhà và
thường tới trò chuyện với một cụ già có kinh nghiệm
về cuộc sống. Sau thời gian chuẩn bị này, ngài đi
sâu hơn vào hoang địa để chiến đấu với ma qủy. Trước
tiên, ngài đến sống gần một ngôi mộ trong khoảng 13
năm. Ngài bị ma qủi quấy phá, nhưng chúng đã không
làm gì được ngài. Năm 286, lúc 35 tuổi, ngài sống
đơn độc trong một pháo đài bị bỏ hoang trong suốt
gần 20 năm trời. Năm 306, 55 tuổi, ngài mới bắt đầu
thu nhận đệ tử. Ngài sống ẩn mình trong sa mạc.
Nhưng từ năm 338, ngài xuất đầu lộ diện để chống lại
bè rối Ariô và qua đời năm 356.
Các ẩn sĩ đã can đảm mở ra một hình thức tu trì độc
đáo của Kitô giáo. Sự nhiệt tâm và thánh thiện của
họ đã thu hút nhiều người bước theo.
Nói chung, họ được gọi là các ẩn sĩ/đan sĩ, sống một
mình với Chúa, sống cho một mình Chúa dưới sự hướng
dẫn của một nhà dìu dắt thiêng liêng. Họ vào sa mạc,
nơi được coi là miền đất của ma qủi, để chống lại
chúng, kẻ thù của con người trên đường tiến về quê
trời (vào hang cọp để bắt cọp, vào tận sào huyệt của
chúng để diệt chúng) và nhất là để bắt chước Chúa
Giêsu, Đấng đã vào sa mạc để chịu cám dỗ. Ngày Chúa
nhật họ cũng tìm đến nhà thờ nào đó tham dự thánh
lễ, và có dịp trao đổi hàng hóa để sinh sống.
Dần dần, các đan sĩ từ bỏ nếp sống đơn độc để qui tụ
thành từng nhóm. Tuy nhiên, vẫn còn những người
thích nếp sống ẩn tu một mình. Bởi đó, hai lối sống
cộng đoàn và ẩn tu vẫn phát triển song song. Cũng có
người sau khi đã tu luyện ở cộng đoàn, lại rút lui
vào sống ẩn tu.
Bộ Giáo luật ngày nay vẫn còn công nhận hai hình
thức tu: trinh nữ (can 604) và ẩn sĩ (can 603).
Có thể nói thánh Pacômiô (292-
346) là người đầu tiên khai sinh ra đời sống tu
trong cộng đoàn (koinonia), tại Tabenne, miền thượng
Ai Cập, năm 325. Thánh Pacômiô và các môn đệ sau này
đều đến từ ngoại giáo. Chính đời sống bác ái của
những người Kitô hữu đã cảm hóa ngài và ngài quyết
định gia nhập Kitô giáo. Sau khi gia nhập Kitô giáo,
ngài đã dấn thân phục vụ những người chung quanh,
rồi vào sa mạc sống gần nhà khổ hạnh Palêmôn vài năm
và nhận ông này làm linh hướng. Sau đó, ngài lại trở
về sống phục vụ và khổ hạnh như một đan sĩ. Lối sống
của ngài đã thu hút được nhiều người đi theo và ngài
đã tụ họp họ lại thành cộng đoàn theo tinh thần cộng
đoàn tiên khởi tại Giêrusalem. Đời sống cộng đoàn
đòi hỏi phải có qui củ, giờ giấc. Ngài đã soạn ra bộ
luật cho cộng đoàn và đó là bản luật cổ nhất của đời
tu. Lối sống cộng đoàn này cũng không khác gì nếp
sống đan tu đơn độc. Họ cũng sống độc thân, ẩn dật,
khổ hạnh, cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa. Luật của
thánh Pacômiô lần đầu tiên đề ra chức viện phụ và
đức vâng lời. Vâng lời đòi hỏi phải từ bỏ ý riêng,
tùng phục công ích. Vâng lời mang tính huynh đệ và
vâng lời viện phụ là tôn trọng lề luật. Mặc dù bước
đầu gặp rất nhiều khó khăn, thánh Pacômiô cũng đã
lập được một cộng đoàn nam và một cộng đoàn nữ. Ngài
coi sóc cộng đoàn nam, còn em gái của ngài trông coi
cộng đoàn nữ. Ngài mất năm 346. Ngài được coi là tổ
phụ của đời sống tu trong cộng đoàn. Lối sống tu trì
cộng đoàn này phát triển mạnh mẽ với 9 cộng đoàn nam
và 2 cộng đoàn nữ.
Từ Ai cập, đời sống đan tu mở rộng sang Palestine, Syria,
Tiểu Á.
Tại Palestine, Hilarion, sinh tại Gaza, sau khi tìm
gặp và sống với thánh Antôn gần 2 tháng, ông đã khám
phá ra lý tưởng đời đan tu. Trở về quê hương, ông
bán tất cả của cải và sống ẩn dật 45 năm. Hilarion
lại qua Ai Cập và mất tại đảo Chypre năm 371. Những
nơi ông đi qua đều thu hút được nhiều người bước
theo lối sống của ông. Nhiều vị ẩn tu, theo gương
Hilarion, tìm vào sa mạc Giuđa và dọc bờ biển Gaza,
tạo nên những trung tâm đan tu rất phồn thịnh. Ngoài
ra, đất thánhPalestine còn
là nơi thu hút các khách hành hương và nhiều người
đã lưu lại lập nên những đan viện gần những nơi có
di tích thánh. Trong số này, có một đan viện nữ, do
nữ đan sĩ Mélanie lập tại Giêrusalem năm 375. Cũng
tại Giêrusalem, có các cộng đoàn ẩn tu, do Chariton thành
lập. Mỗi đan sĩ sống đơn độc trong một hang và Chariton làm
linh hướng cho họ. Mỗi tuần, họ gặp nhau vào ngày
thứ bảy để kiểm điểm đời sống. Từ năm 350, lối sống
này đã biến thành những tu viện ẩn tu và chúng phát
triển rộng khắp từ Biển đỏ đến thành Ninivê. Năm
385, thánh Jêrôme đến sống tại Bêlem và ngài đã
thành lập 3 cộng đoàn ẩn tu nữ và 1 cộng đoàn ẩn tu
nam ở đó. Dần dần, Giêrusalem và Bêlem trở thành 2
trung tâm phát triển lối sống đan tu. Cách chung,
mỗi cộng đoàn thường sống dưới sự điều khiển của một
vị linh hướng (Abbas). Các đan sĩ cũng đã bắt đầu
tham gia vào các sinh hoạt của Giáo hội và xã hội.
Tại Syria,
không có những khuôn mặt nổi bật như tại Ai Cập và Palestine.
Trung tâm đan tu nổi tiếng của Syria nằm ở Chalcis,
cách Antiôkia khoảng 50 km. Nơi đây có đan sĩ
Malchos và là nơi thánh Jêrôme tập sống đời đan tu 3
năm, từ 375- 378. Các đan sĩ ở Syria sống
rải rác, nay đây mai đó và cá thể. Cách sống này đã
tạo ra những hình thức tu khác thường và ly kỳ: Có
nhóm ẩn tu sống trên cột. Từ trên cột, họ cũng giảng
dạy, khuyên nhủ tín hữu,… Simon cột (389-459) là
người sáng lập và tiêu biểu của nhóm này. Ngài đã
sống trên một trụ cột bằng đá cao 5m, rồi 6m, 10m và
sau cùng là 18m trong suốt 30 năm, gần Antiôkia.
Ngài ao ước được cách xa dần trái đất và bay bổng về
trời. Hoặc có những người sống trên cành cây, trong
hốc cây, trong những cái am, nấm mồ, hoặc chỉ đứng
chứ không ngồi hay nằm, không ngủ (sống thành cộng
đoàn và luôn có người thức để cầu nguyện)
Tại Tiểu Á, một nhân vật nổi tiếng là thánh Basiliô (329-
379), tác giả của một bản luật mà ngày nay còn được
tuân giữ bên các Giáo hội Đông phương. Thánh Basiliô
sinh ra trong một gia đình có nhiều người nên thánh
như bà nội, bố, mẹ và em trai. Ngài đã sống ẩn dật 5
năm tại Annesi. Năm 25 tuổi, ngài du hành qua Syria,
Ai Cập, Palestine và Lưỡng Hà Địa để tìm hiểu lối
sống đan tu. Ngài bị lôi cuốn bởi nếp sống đan tu
của thánh Pacômiô. Trở về quê quán, ngài liền thành
lập một đan viện với những phương tiện riêng. Đan
viện này chỉ kéo dài được gần 8 năm, vì ngài được
chọn làm Giám mục năm 370. Ngài luôn luyến tiếc nếp
sống đan tu và nghĩ rằng mình chỉ có ơn gọi làm đan
sĩ. Ngài thường đi thăm các đan viện và ngài đã
thành lập một đan viện rất lớn bên cạnh Tòa Giám mục
của ngài. Bên cạnh đan viện còn có một trường học và
một bệnh viện. Luật của thánh Basiliô nhen nhúm đức
ái. Có thể tóm tắt như sau: để yêu mến Chúa, phải xa
lánh thế gian; để yêu mến tha nhân, phải sống chung
với nhau. Bộ luật lấy nguồn từ Kinh thánh và bám rễ
sâu vào Giáo hội. Ngài dựa trên những câu Tin mừng
đầy tinh thần bác ái, nhưng khi áp dụng vào đời sống
cụ thể, lại chú trọng đến những lời cảnh cáo và
trừng phạt. Do vậy, luật của ngài mới chỉ nhen nhúm
tinh thần bác ái Tin mừng mà thôi. Thánh Basiliô áp
dụng tinh thần huynh đệ theo luật thánh Pacômiô,
nhưng thay đổi nếp sống bằng cách giảm bớt số người
trong cộng đoàn, giúp cho viện phụ dễ quan tâm đến
tất cả mọi người và đưa ra những luật lệ gắt gao
hơn. Vai trò của viện phụ và đức vâng phục được đề
cao hơn. Các đan sĩ có thể được lãnh tác vụ linh mục
để phục vụ cộng đoàn.
b. Tại phương tây
Đời sống tu trì được truyền bá sang Âu châu nhờ
những người hành hương thánh địa, các thương gia,
đặc biệt nhờ công lao của Giám mục Athanasiô khi
ngài bị lưu vong tại thành Trèves mang về. Bên Tây
phương, hình thức ẩn tu không phát triển, chỉ có
hình thức cộng đồng. Lúc đầu, các cộng đoàn này
thường do các Giám mục thành lập và qui tụ quanh các
ngài như Giám mục Martinô ở Tours (317- 397), bên
Pháp. Đây là cộng đoàn đan tu đầu tiên bên tây
phương, sống theo luật của thánh Pacômiô. Hoặc như
cộng đoàn của Giám mục Eusebiô ở Vercelli (+
371), Ambrôsiô ở Milanô (+ 397), Italia; Augustinô
thành Hippône (354- 430). Ngoài ra, Honorat cũng
thành lập một cộng đoàn đan tu Lérins nổi tiếng khắp
vùng năm 410, và sau khi trở thành Giám mục, ngài
còn lập thêm một đan viện nữa. Một nhân vật nổi
tiếng khác cùng miền là Cassianô (360- 435) cũng đã
lập ra 2 đan viện: đan viện thánh Victor dành cho
nam và đan viện Đấng Cứu Chuộc dành cho nữ. Cassianô
ghi lại những kinh nghiệm ông đã thu lượm được từ
đông phương và cho phát hành bộ Instittions
cénobitiques (Hiến pháp đời sống cộng đoàn ẩn tu)
gồm 12 cuốn.
Các cộng đoàn đan tu bên tây phương sống tại các
thành thị, và thường bao gồm cả các giáo sĩ. Cũng có
cả các cộng đoàn các trinh nữ nữa.
Nổi bật nhất là bản luật của thánh Augustinô: bản
luật này có ảnh hưởng đối với các đan viện thời các
giáo phụ và thời trung cổ, được nhiều dòng áp dụng
như dòng Prémontrès, Tôi tớ Đức Mẹ, đặc biệt là các
dòng nam mang danh là dòng thánh Augustinô (Ordo S.
Augustini). Luật của thánh Augustinô là bản đầu tiên
được viết thành văn bên tây phương, được kể vào loại
cổ xưa nhất trong đời tu, sau bản luật của thánh
Pacômiô và Basiliô và trước luật của thánh Bênêdictô
cả một thế kỷ. Thánh Augustinô được coi là người đầu
tiên viết luật cho dòng nữ.
Đối với phái nữ, đời sống tu trì phát triển một cách
chậm chạp. Ngay từ đầu đã có những trinh nữ, nhưng
khi hình thức ẩn tu hình thành thì chỉ có nam tu mới
dám lên rừng tu luyện. Khi hình thức tu cộng đồng
xuất hiện, cũng có những cộng đồng trinh nữ, nhưng ở
tại thành thị, vì lý do an ninh. Từ thế kỷ IV, đã có
những cộng đồng trinh nữ bên cạnh các tòa Giám mục.
2. Giai đoạn từ 500- 1200: Phát triển Đan tu
Đây là giai đoạn phát triển, cải tổ đời sống đan tu
bên tây phương.
Đế quốc Rôma sụp đổ (450-800): Giáo hội chuyên chế
sụp đổ cùng với sự sụp đổ của Đế quốc Rôma. Từ đây
phát sinh phong trào Giáo hội trở về sống lối sống
khắc khổ (monasticism) của các đan sĩ với cao điểm
là thánh Bênêđictô thành Norcia. Lối sống này tác
động đến Giáo hội thật sâu rộng với chủ trương các
tín hữu sống “vừa cầu nguyện vừa lao động”, thích
nghi theo lối sống nông thôn và tập trung thành các
cộng đoàn cầu nguyện và tôn sùng Thánh Thể.
Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả thiết lập Thánh Thể như
một khuôn mẫu cho lối sống tu trì và lối sống của
các đan sĩ trở thành khuôn mẫu cho lối sống của hàng
giáo sĩ cũng như cho những ai nắm giữ chức sắc trong
Giáo hội.
Khuôn mặt đan tu thay đổi toàn diện với thánh Bênêdictô (480-
547). Ngài đã thành lập những cộng đoàn đan tu nổi
tiếng ở Subiacô và Monte Casinô (Italia). Sau khi
thành lập nhiều đan viện ở Subiacô, ngài bắt đầu
viết luật cho họ. Bản luật của thánh Benedictô thu
gom những tinh hoa của các bản luật trước: Pacomiô,
Basiliô, Cassianô, Augustinô. Nhưng trên tất cả là
chính kinh nghiệm sống đời đan tu của ngài. Thánh
Benedictô đề cao việc ngợi khen Chúa qua phụng vụ,
kế đó là lao động. Phương châm của người đan sĩ là
“cầu nguyện và lao động” (Ora et Labora). Viện phụ
được anh em bầu lên vĩnh viễn và ngài là đại diện
cho Chúa Kitô. Đan sĩ tuyên hứa vĩnh cư, hoán cải
(bao gồm việc từ bỏ tài sản, tính hư nết xấu) và
vâng phục (thế kỷ 13 mới có 3 lời khấn như ngày
nay). Lúc đầu, các đan viện hoàn toàn biệt lập, tự
trị. Mỗi tu viện hình thành đều được phát sinh ra từ
một tu viện mẹ. Vào thế kỷ VIII và IX, luật của
thánh Benedictô trở thành luật chung cho đời sống
đan tu bên Tây phương. Ngài được coi là tổ phụ của
đời đan tu bên Tây phương. Các đan viện trở thành
những trung tâm văn hóa với di tích các thánh, những
kho tàng phụng vụ, những thư viện và những thủ bản.
Lối sống đan tu trở thành hình thái độc nhất của nền
văn hóa cổ.
Năm 800, hoàng đế Charlemagne của nước Pháp được
phong làm hoàng đế đầu tiên của đế quốc Rôma và là
người bảo vệ ngai giáo hoàng. Thế quyền và giáo
quyền lại liên kết với nhau thành một tổ chức được
coi là linh thánh. Hàng giáo sĩ vừa nắm thần quyền
và thế quyền nên đã phát sinh ra nhiều tệ nạn làm
cho Giáo hội trở thành Giáo hội của thế gian, không
còn là Giáo hội của Chúa nữa. Đứng trước những suy
thoái trầm trọng này, Đức Giáo Hoàng Grêgoriô VII đã
cố công cải cách hàng giáo sĩ. Trước tiên, ngài tấn
công vào việc buôn thần bán thánh, bán các đồ thờ
phượng trong Giáo hội, kiểm soát chuyện phòng the
giáo sĩ, chuyển tài sản cho con cái của giáo sĩ. Đức
Grêgoriô cũng bắt buộc các giáo sĩ phải sống độc
thân. Nhiều phong trào cải cách nổi lên, đòi hỏi
Giáo hội trở về với nếp sống giản dị của thời Giáo
hội nguyên thủy. Các dòng khổ tu cũng phát động công
cuộc canh tân Giáo hội.
Đối với nội bộ các dòng tu, sau một thời gian sống
theo hình thức mới, có nhiều vấn đề nảy sinh, nhiều
vấn đề tiêu cực, nhiều khi đi quá trớn, hoặc đi
trệch đường cần được uốn nắn. Bởi đó, vấn đề cải
cách được đặt ra. Từ thế kỷ 10, chúng ta có các cuộc
cải tổ. Ở đây, chỉ nói sơ qua về sự cải tổ của Cluny,
từ thế kỷ X; và Xitô,
thế kỷ XI. Do sự cải tổ của dòngCluny,
một số đan viện liên kết với nhau chung quanh một
đan viện mẹ, quyền hành được tập trung vào trung
ương. Một đặc điểm nữa là tại Cluny,
vai trò của phụng vụ rất được đề cao. Đây là sự cố
gắng áp dụng triệt để luật của thánh Benedictô (kinh
sĩ: hát kinh thần vụ). Sang thế kỷ XI, cuộc cải cách
Xitô đi ngược lại: không tập trung quyền hành vào
nhà mẹ, tôn trọng sự tự trị của mỗi đan viện. Các
đan viện vẫn liên kết với nhau qua việc tuân giữ một
luật lệ chung, qua các tổng hội hàng năm và qua việc
kinh lý của các viện phụ trưởng. Một sự thay đổi nữa
là các đan sĩ dần dần chịu chức linh mục để đáp ứng
nhu cầu mục vụ. Các đan sĩ không sống trong rừng
vắng hay nơi cô quạnh, nhưng họ luôn biết “xuất thế”
để sống cho một mình Thiên Chúa.
3. Giai đoạn từ 1200- 1500: Hành khất
Trong hai giai đoạn trước, có hai hình thức chính là
ẩn tu đơn độc và đan tu cộng đoàn. Trong giai đoạn
này, đời sống đan tu cộng đoàn vẫn tiếp tục phát
triển, nhưng một hình thức mới xuất hiện: các dòng
hành khất.
Trong giai đoạn này, văn minh Âu châu bước sang một
bước ngoặt mới: từ kinh tế nông nghiệp chuyển sang
kinh tế thương mại ở thành thị và nhiều đại học ra
đời. Bởi đó, các cộng đoàn tu giã từ nông thôn và
nơi hoang vắng để tiến về thành phố, tiến về nơi đô
hội, hầu đáp
ứng những nhu cầu mới của xã hội và Giáo hội.
Hơn nữa, đời tu cũng cần được cải tổ, vì các đan
viện lớn trở thành những dinh thự giàu có và đầy
quyền lực, các viện phụ cũng nắm quyền hành không
khác gì các lãnh chúa.
Các phong trào canh tân Giáo hội trong giới tu sĩ
rầm rộ mọc lên, nhất là các dòng hành khất của thánh Phanxicô
Assisi(1181- 1226) và thánh Đaminh (1170-
1220), với chủ trương: Hăng say đi loan báo Tin
Mừng, rao giảng bằng gương mẫu đời sống khó nghèo;
chăm lo về mục vụ hơn là cai trị trong Giáo hội;
phát động canh tân về thần học, nhờ đó đã tạo ra
được những nhà thần học sáng chói trong Giáo hội.
Đối với các dòng hành khất, ý thức về sứ vụ loan báo
Tin mừng trở nên rõ rệt hơn. Việc bước theo Đức Kitô
không chỉ là tu thân tích đức, nhưng còn phải ra đi
loan báo Tin mừng như Chúa đã sai các môn đệ đi rao
giảng (Lc 10, 1- 15). Họ không còn khấn vĩnh cư nữa,
nhưng có thể được di chuyển tới bất cứ đâu, bất cứ
nơi nào. Tất cả đời sống của họ từ cầu nguyện, hy
sinh hãm mình, khó nghèo, vâng lời, đời sống cộng
đoàn… đều hướng về truyền giáo, nhằm chuẩn bị tâm
hồn để sẵn sàng được sai đi.
Thánh Đaminh và thánh Phanxicô đã đi tiên phong,
khai mở một hình thức tu trì mới cho các dòng hành
khất thời Trung cổ. Họ sống khó nghèo tập thể, sống
nhờ vào sự khất thực hằng ngày chứ không dựa trên
của cải, tài sản. Đối tượng rao giảng Tin mừng của
họ là những tầng lớp xã hội mới ra đời: trí thức,
thương gia. Tuy vẫn giữ luật nghiêm ngặt như trước;
nhưng cách tổ chức, sinh hoạt của các dòng này cũng
được canh tân để thích nghi với sứ vụ mới. Bề trên,
do anh em bầu ra, được coi như anh trưởng, chứ không
như viện phụ như trước đây. Hầu hết các tu sĩ lãnh
tác vụ linh mục để đáp ứng với nhu cầu về mục vụ và
truyền giáo.
Ngoài hai dòng Đa minh và Phanxicô, dòng Augustinô,
carmelô, Chúa Ba Ngôi, dòng Bệnh viện thánh Gioan
Thiên Chúa, dòng Tôi tớ Đức Bà cũng được xếp vào
loại hành khất.
Bên cạnh các dòng nam cũng thường xuất hiện các dòng
nữ như Biển đức, Augustino, Đaminh, Clara, Cát minh
(thế kỷ 15), …Nhưng vì luật lệ còn nghiêm ngặt, nên
các dòng nữ thường là các dòng kín. (Thời trung cổ
tỉ lệ tu sĩ giữa nam và nữ là 5/1: Cứ 5 nam mới có 1
nữ. Nhưng tình thế đã thay đổi. Năm 1992, số nữ tu
là 759.177, nam tu là 232.636).
4. Giai đoạn 1500- 1800: Hoạt động tông đồ
Giai đoạn này có 4 hình thức mới:
- Các giáo sĩ
lề luật
Hình thức này xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI, gồm:
dòng Teatinô (1524), dòng Barnabiti (1533), dòng Tên
(1540), dòng Somasca (1540), dòng Camilianô (1591).
Họ là những giáo sĩ chuyên về các công tác mục vụ
của chức linh mục. Họ có luật riêng, có lời khấn
dòng, nhưng không theo nếp sống của đan tu (như đọc
kinh Thần vụ chung) để dành nhiều thời giờ hơn cho
các công tác mục vụ: việc hoạt động tông đồ được coi
như một phương thế để nên thánh. Cách tổ chức và
sinh hoạt của họ cũng được sắp xếp phù hợp với việc
tông đồ: Bề trên tổng quyền nắm mọi quyền hành để có
thể dễ dàng điều động nhân sự, các chức vụ đều do
trung ương chỉ định. Có thể nói thế kỷ 16 là thế kỷ
của giáo sĩ lề luật.
(Bên cạnh đó, thế kỷ 16 cũng đánh dấu một thời kỳ
truyền giáo rộng lớn của các hội dòng như dòng
Đaminh, Phanxicô, Augustinô, dòng Tên,… Họ đến những
vùng đất mới cùng với thời kỳ khám phá ra Châu Mỹ
(1492), xâm chiếm thuộc địa của các nước Tây ban
nha, Bồ đào nha, Pháp,…)
- Các hội dòng
hoạt động tông đồ
Từ thế kỷ XVI- XVII, các trường học phần lớn được
dành riêng cho các con em thuộc tầng lớp qúi tộc,
quyền thế và trung lưu. Các con em của giới thợ
thuyền, lao động nghèo bị bỏ rơi. Do đó, một số cha
sở đã lập ra những ngôi trường từ thiện cho các con
em trong giáo xứ. Một số dòng tu cũng chuyên chú vào
giáo dục như dòng Thánh Thể, dòng Chúa Giêsu Hài
Đồng, dòng Nữ Kinh sĩ Âu Tinh.
Bên cạnh đó, khác với các đan viện trước đây nhắm
tới việc tu thân tích đức, nhiều
dòng ra đời trong giai đoạn này đều theo đuổi một
công tác tông đồ nhất định, đáp ứng nhu cầu cụ
thể của Giáo hội hay xã hội như giáo dục, săn sóc
bệnh nhân, cô nhi, người già, người tàn tật,... Một
số dòng nam trong giai đoạn này gồm có dòng các Sư
huynh Lasan (1680), Dòng thánh Gioan Thiên Chúa
(1572), Tu đoàn Truyền giáo thánh Vinh sơn (1625),…
Nhưng các dòng nữ thuộc loại này chiếm đa số. Thường
lúc đầu họ chỉ là những nhóm nhỏ, hội, giống như là
nhà tình thương, hội bác ái,… hoạt động trong các
giáo xứ hay giáo phận. Sau đó, khi đã đủ lông đủ
cánh, họ xin Tòa thánh phê chuẩn. Tuy nhiên, tiến
trình phê chuẩn rất chậm chạp, vì để thực thi nghị
định cải tổ đời tu của công đồng Trentô, đức Piô V,
với tông hiến Circa Pastoralis (1566), đã ra lệnh
cho tất cả các nữ tu phải khấn trọng và sống trong
nội vi. Do đó, nếu dòng nữ muốn tham gia vào hoạt
động xã hội ngoài đời, thì chỉ được nhìn nhận là
bán-nữ tu. Mãi cho tới đầu thế kỷ 20, giáo luật mới
coi các nữ tu hoạt động tông đồ cũng là nữ tu thực
thụ.
Mặc dù giáo luật đòi buộc khắt khe như vậy, từ cuối
thế kỷ 16 - kỷ 18, các dòng tu nữ thiên về hoạt động
tông đồ cũng đã xuất hiện:
1579: dòng Mẹ Vô nhiễm (Daughters of the Immaculate
Conception)
1609: dòng Trinh nữ Maria (Institute of the Blessed
Virgin Mary- English Ladies)
1633: Tu đoàn Nữ tử bác ái Vinh sơn, do thánh Vinh
sơn thành lập tại Pháp. Vì giáo luật lúc đó cấm các
nữ tu ra khỏi nội vi để làm việc tông đồ và thánh
Vinh Sơn lại không muốn từ bỏ đặc sủng phục vụ người
nghèo của mình, nên ngài đành chấp nhận việc các nữ
tử không được xếp vào hàng nữ tu thực thụ: họ chỉ có
lời khấn tư và lặp lại hàng năm.
1667: dòng Chúa Giêsu Hài đồng, Pháp, do mẹ Anne
Marie Martel (1644-1673).
1670: dòng Mến thánh Giá (Việt Nam)
1696: dòng thánh Phaolô thành Chartres
1715: Nữ Đaminh Việt Nam
1762: dòng Chúa Quan phòng
Thế kỷ 16 có thêm 18 hội dòng mới. Thế kỷ 17 có thêm
22 hội dòng mới.
- Các tu đoàn
tông đồ
Bộ Giáo luật cũ gọi họ là các tu đoàn sống chung
không có lời khấn. Nói chung, họ là những giáo sĩ
muốn sống chung với nhau để giúp nhau nên thánh hay
để cùng nhau thực hiện một công việc nào đó, nhưng
họ không muốn bị ràng buộc bởi lời khấn dòng. Ở Việt
Nam chúng ta có các Tu đoàn thuộc quyền Giáo hoàng:
Tu đoàn Truyền giáo thánh Vinh Sơn (1625), Hội linh
mục Xuân Bích (1641), Hội Thừa sai Paris (1664); và
sau này có các tu đoàn thuộc quyền giáo phận: Tu
đoàn Tông đồ Giáo sĩ Nhà Chúa (1996), Tu đoàn Nhập
Thể- Tận hiến- Truyền giáo (2000), Tu đoàn Thừa sai
Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế (1991), Hội Thừa sai Việt Nam
(1972). Cũng có những tu đoàn tông đồ nữ đang hoạt
động tại Việt Nam như: Tu đoàn Nữ tử Bác ái Vinh Sơn
(thuộc quyền giáo hoàng) và 2 Tu đoàn thuộc quyền
giáo phận là Tu đoàn Ảnh Phép lạ (1947) và Tu đoàn
Nhập Thể- Tận hiến- Truyền giáo (1998).
- Các tu hội
đời
Hình thức này đã nhen nhúm từ thế kỷ 16, khi thánh
Angela Merici (1470/4- 1540), lúc đã ngoài 60 tuổi,
lập một hội những thiếu nữ muốn dâng mình cho Chúa
và đồng thời chăm sóc các trẻ em mồ côi vào năm
1533, nhưng họ vẫn tiếp tục sống tại gia đình, không
có tu phục. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng táo
bạo và quá cấp tiến so với thời đó. Do đó, hình thức
này chỉ tồn tại được một thời gian ngắn. Cho mãi tới
năm 1947, giáo luật mới nhìn nhận hình thức tu này,
nên các tổ chức ra đời trước đó phải sống lén lút,
tu chui, ngoài vòng giáo luật. Sự phát triển thực sự
của hình thức tu hội đời chỉ phát triển ở thế kỷ 20,
khi Giáo hội cần có những người dấn thân để làm
chứng giữa đời. Năm 1992, đã có 163 tu hội đời trên
toàn thế giới (42 nam và 97 nữ; 53 thuộc quyền Giáo
hoàng và 110 thuộc quyền giáo phận). Họ sống giữa
đời, giống như mọi người, để phục vụ.
5. Giai đoạn 1800- 2000: Giảng dạy/truyền giáo
Giai đoạn trăm hoa đua nở.
Đây là giai đoạn các hội dòng mới thành lập dấn thân
mạnh mẽ vào việc truyền giáo và vào đời sống xã hội,
đặc biệt là các dòng nữ khi giáo luật (đầu thế kỷ
20) nhìn nhận các nữ tu hoạt động tông đồ cũng là nữ
tu thực sự (không còn bị coi là bán nữ tu nữa).
Trong giai đoạn này, nhiều dòng ra đời để đáp ứng
những nhu cầu khác nhau của Giáo hội và xã hội, như
giáo dục (nhu cầu mở nhà trẻ để trẻ em có được sự
giáo dục Kitô giáo ngày càng lớn mạnh), chăm sóc
bệnh nhân, người già, trẻ mồ côi, người tàn tật, mở
rộng sự phục vụ đến những người ngoài Công giáo, nhu
cầu về truyền giáo. Thế kỷ XIX đã đánh dấu sự phát
triển mạnh mẽ của những hội dòng loại này. Chỉ
trong thế kỷ này, có khoảng 600 cộng đoàn mới được
thành lập.Thế
kỷ XX ghi dấu ấn của một đấng sáng lập được cả thế
giới khâm phục và ngưỡng mộ: mẹ Têrêxa Calcutta.
Dòng của mẹ đã đem tình yêu Thiên Chúa đến với những
người cùng khốn nhất qua việc phục vụ trong khiêm
nhường.
Giai đoạn này cũng đánh dấu sự xuất hiện của các hội
dòng đa sắc tộc, nhất là những hội dòng hướng đến
truyền giáo.
Các Hội dòng cố gắng bước theo Chúa Kitô, họa lại
cuộc đời của Ngài. Mỗi dòng có mục đích khác nhau,
tùy vào việc họa lại khía cạnh nào của cuộc sống
Chúa Giêsu. Cách chung có 4 loại dòng:
1) Chúa Giêsu cầu nguyện: đây là mục tiêu của những
hội dòng thuần túy chiêm niệm.
2) Chúa Giêsu loan báo nước trời: mục đích của những
dòng phục vụ Lời Chúa (giảng, dạy).
3) Chúa Giêsu thi ân giáng phúc cho nhân loại: những
dòng chuyên về công tác bác ái xã hội.
4) Chúa Giêsu sống giữa đời: các Tu hội đời.
Mỗi thời đại, mỗi nhu cầu, có cách đáp trả riêng.
6. Giai đoạn 2000-...?
Hình thức tu trì nào sẽ nổi bật trong giai đoạn mới
này?
Các hình thức tu trì xuất hiện trong lịch sử Giáo
hội thường là để đáp ứng 2 mục đích chính: trở về
với Tin mừng (khi đời sống đạo trong Giáo hội sa
sút, xa rời Tin mừng) và đáp ứng những nhu cầu khẩn
cấp của Giáo hội và xã hội.
Qua các giai đoạn, chúng ta thấy có một khuynh hướng
chung: đời
tu càng ngày càng dấn thân hơn, càng ý thức về sứ vụ
hơn. Từ
thời Trung cổ, ý thức về sứ vụ ngày càng trở nên
mãnh liệt. Từ trong sa mạc, nơi thôn làng hẻo lánh,
họ bước ra ngoài xã hội nhưng vẫn sống trong khung
cảnh của tu viện (kín cổng cao tường), rồi dần dần
đảm nhận những vai trò trong Giáo hội và xã hội.
Ngày nay, đời tu thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời
sống Giáo hội cũng như xã hội. Các hội dòng ngày
càng ý thức hơn về sứ mệnh của họ trong việc phục vụ
những nhu cầu tinh thần hay vật chất của nhân loại
theo đặc sủng của mình. Mỗi giai đoạn được đánh dấu
bằng một hình thức tu trì nổi bật. Những thay đổi
lớn trong Giáo hội và xã hội là những dấu chỉ thời
đại mà Chúa Thánh Thần tác động nơi các vị sáng lập,
để họ lập nên những hình thức tu trì mới, đáp ứng
những nhu cầu của Giáo hội và xã hội.
Ngày nay, con số các dòng tu cũng giảm sút nhiều:
hơn 2/3 các dòng thành lập trước năm 1500 nay không
còn nữa, gần ½ các dòng thành lập sau năm 1600 cũng
bị xóa tên: nhu cầu họ đáp ứng không còn nữa, nhưng
họ đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Con
số các nam nữ tu sĩ cũng đang giảm sút nhiều. Con số
nam nữ tu sĩ đã giảm 18,7%, từ 1 triệu 225,056 xuống
còn 995,639 trong khoảng thời gian từ năm 1978 đến
năm 2000.
Chúng ta đang ở thời kỳ đầu của giai đoạn mới, là
những người đang góp phần tạo nên một hình ảnh mới
nổi bật của giai đoạn này. Người tu sĩ hôm nay đang
sống trong một thế giới khác hẳn trước đây: toàn cầu
hóa, tục hóa, sự phân chia và đối đầu ngày càng gay
gắt giữa thần quyền và thế quyền, sự bất công trong
xã hội ngày càng gay gắt, tình trạng di dân lan
tràn,…Thiên niên kỷ này là của Châu Á, của đối thoại
tôn giáo, đại kết, hội nhập văn hóa, của giáo dân,
đặc biệt là phụ nữ.
Trong bối cảnh hiện nay, có nhiều hình thức tu trì
mới, nhiều cộng đoàn mới ra đời. Đây là những hình
thái mới của đời tu: gồm nam và nữ, giáo sĩ và giáo
dân, người đã lập gia đình và người độc thân, các
phong trào tông đồ giáo dân, các đan viện đại kết
(chia sẻ nếp sống đan tu giữa Giáo hội Công giáo và
Giáo hội Kitô khác, hoặc giữa Công giáo với các tôn
giáo khác như Ấn giáo, Phật giáo), các hội dòng đa
sắc tộc ngày càng phát triển, các phong trào Giáo
hội liên kết với các hội dòng, v.v.
Trong thời đại chúng ta, người giáo dân đóng vai trò
chủ đạo trong sứ mệnh loan báo Tin mừng và tân Phúc
âm hóa. Qua các đặc sủng của họ, họ tích cực loan
báo Tin mừng cho toàn thế giới qua con đường đối
thoại bằng đời sống, mang sứ điệp của Tin mừng đến
khắp mọi nơi. Một số phong trào Giáo hội đã liên kết
chặt chẽ với các hội dòng và chia sẻ đoàn sủng, linh
đạo và sứ mệnh đặc biệt của các hội dòng đó. Sự hiệp
thông và cộng tác này giúp phổ biến linh đạo hướng
tới hoạt động ra ngoài biên giới của hội dòng, giúp
cho hội dòng đào sâu và làm phong phú thêm đoàn sủng
của mình và từ đó rút ra nhiều gợi ý cho hoạt động
tông đồ mới mẻ. Nhờ gương thánh thiện của những
người tận hiến, người giáo dân sẽ có kinh nghiệm
trực tiếp về tinh thần của các lời khuyên Phúc âm,
được khích lệ và làm chứng cho tinh thần các mối
phúc để biến đổi trần thế theo ý định của Thiên Chúa
(x. VC 54- 56; FLC 62, 70). Bởi đó, các hội dòng nên
xem xét lại những hoạt động truyền thống của mình để
hợp tác với người giáo dân trong công việc truyền
giáo, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu tông đồ và mục
vụ đang nổi lên, đặc biệt trong những lãnh vực công
bằng xã hội, xây dựng những cộng đoàn cơ bản được
năng động bởi sự hiệp thông và tham gia vào biến đổi
xã hội nên tốt đẹp hơn.
Chúng ta không thể dự đoán được hình thức tu trì nào
sẽ nổi bật trong giai đoạn mới này. Đây là công việc
của Chúa Thánh Thần. Lắng nghe tiếng nói của Chúa
Thánh Thần, nhạy bén với những dấu chỉ thời đại…
JB. Trần Hữu
Hạnh, fsf
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Arbuckle, Gerald A, S.M. From
Chaos to Mission,
Refounding Religious Life Formation. London:
Geoffrey Chapman, 1996
M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ). Đời
tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II và Giáo luật,
Quyển I. The Daughters ofSt.
Paul, 1986, p. 69-80.
Phan Tấn Thành. Giải
Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3
và 4 Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ.
Rôma, 1993, p. 350-369, 411-412, 429- 432
Union of
Superiors General. Consecrated
Life Today- Charisms in the Church for the World.
International Congress.Rome,
22- 27 November 1993.